Ung thư

Các thuốc hỗ trợ bỏ thuốc lá

Các thuốc hỗ trợ bỏ thuốc lá

Điều trị thay thế nicotine, brupropion và varenicline là những thuốc được sử dụng phổ biến nhất hiện có trên thị trường để giúp người bỏ thuốc thành công.

Điều trị thay thế nicotine:

Khi thiếu nicotine, người nghiện thuốc lá thường không chỉ mất cảm giác khỏe mạnh mà còn có thể có những triệu chứng do ngưng thuốc như trạng thái trầm cảm, khó ngủ, kích thích, giận dữ, lo lắng, khó tập trung, cảm giác không yên và những cơn thèm thuốc.

Điều trị thay thế nicotine giúp làm giảm mức độ nặng của những triệu chứng kể trên, nó không có tác dụng ngăn chặn xuất hiện những triệu chứng khi bó thuốc lá. Thuốc sử dụng an toàn, ngay cả những người có mắc bệnh tim mạch. Tuy nhiên, không nên sử dụng chung thuốc thay thế nicotine và hút thuốc lá và nhiều người bỏ thuốc lá mà không cần dùng đến điều trị thay thế nicotine.

Nicotine có vài dạng bào chế như: dạng kẹo cao su, dạng viên thuốc (nicotine polacrilex), miếng dán, dạng xịt muỗi hoặc dạng hít. Không có dạng nào tốt hơn dạng nào, tuy nhiên người bỏ thuốc lá có thể thấy một dạng nào đó có hiệu quả hơn đối với mình.

Dạng kẹo cao su:

Kẹo cao su nicotine chứa nicotine gắn kết với chất nhựa polacrilex cho phép phóng thích nicotine khi nhai. Kẹo có 2 hàm lượng 2 mg và 4 mg. Những người hút ≤ 25 điếu một ngày có thể dùng viên 2 mg khi cần. Những người hút > 25 điếu thuốc một ngày thì dùng viên 4 mg. Nồng độ nicotine trong máu khi dùng viên kẹo cao su thấp hơn khi hút thuốc lá 40 % do đó viên kẹo chỉ giúp cải thiện chứ không làm mất hoàn toàn các khó chịu khi cai thuốc lá.

 Khi dùng kết hợp với chương trình thay đổi hành vi tích cực, kẹo cao su nicotine giúp tăng tỷ lệ thành công khi bỏ thuốc lá lên gấp hai lần, nhưng nếu không tích cực thay đổi hành vi, tỷ lệ này sẽ thấp. Thời gian cần thiết để thành công khoảng 3-6 tháng.

Có vài bất lợi khi dùng kẹo cao su nicotine. Một số người có độ pH trong miệng thấp sẽ làm giảm hấp thu nicotine. Hấp thu nicotinre ở miệng (qua má, lợi) thì có hiệu quả hơn nuốt xuống dạ dày. Nicotine nuốt xuống dạ dày có thể gây khó chịu và giảm hiệu quả

Dạng viên thuốc:

Viên thuốc nicotine có polacrilex sẽ phóng thích nicotine vào trong nước bọt ở miệng, hoạt động tương tự như kẹo cao su nicotine, do đó nên được hấp thu qua niêm mạc miệng (má, lợi) chứ không được nuốt. Viên thuốc không cần nhai nên có thể dễ sử dụng.

Dạng miếng dán da:

Nicotine được phóng thích từ chỗ dán qua da và vào máu. Có nhiều hàm lượng khác nhau: hàm lượng cao nhất là 21 và 22 mg/ miếng dán phóng thích nicotine ở tốc độ để duy trì nồng độ nicotine bằng phân nửa nồng độ nicotine trong máu những người hút 30 điếu thuốc lá/ ngày. Miếng dán có thể hiệu quả hơn kẹo cao su khi không áp dụng chương trình thay đổi hành vi tích cực.

Nên sử dụng miếng dán nicotine ở liều đầy đủ trong 4-6 tuần. Một số dạng miếng dán có hàm lượng giảm liều dần trong vài tuần bổ sung, tuy nhiên dùng miếng dán nicotine lâu hơn cũng không cải thiện khả năng bỏ thuốc thành công. 

Dùng nicotine ban đêm có thể bị rối oạn giấc ngủ, đặc biệt là những giấc mơ mạnh mẽ. Mặt khác, có thể làm tăng nồng độ nicotine buổi sáng, giúp dự phòng những triệu chứng ngưng thuốc xảy ra buổi sáng sớm. Nồng độ nicotine trong máu tăng chậm khi dùng miếng dán nicotine ít có nguy cơ nghiện.

Dạng xịt mũi:

Là dạng nicotine lỏng phun vào niêm mạc mũi. So với dạng kẹo cao su và miếng dán, dạng này cho nồng độ nicotine trong máu tăng tương tương đối nhanh, rất giống với những thay đổi khi hút thuốc lá. Tuy nhiên, mũi rất hay bị kích thích, 94 % người dùng sẽ bị tác dụng phụ này trong 2 ngày đầu sử dụng và 81 % tiếp tục bị sau 3 tuần tiếp theo. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả và tính an toàn của nicotine dạng xịt mũi, tuy nhiên điều bất lợi là tăng nguy cơ phụ thuộc nicotine kéo dài khi so với các dạng nicotine khác.

Dạng hít:

Là phương pháp ngưng thuốc lá an toàn và hiệu quả. Phần lớn nicotine lắng đọng ở miệng khi hít vào và hấp thu chậm vào máu qua niêm mạc miệng. Miệng và họng dễ bị kích thích khi sử dụng dạng hít đặc biệt khi dùng lần đầu. Không nên dùng cho những người bị hen suyễn hoặc ho kéo dài vì kích thích họng.

Bupropion (Zyban®, Wellbutrin®):

Là thuốc chống trầm cảm, dùng một lần mỗi ngày trong ba ngày, sau đó tăng lên hai lần mỗi ngày trong hai tuần trước ngày bỏ thuốc; tiếp tục trong 7-12 tuần. Bupropion có thể hiệu quả hơn điều trị thay thế nicotine, kết hợp hai dạng điều trị sẽ có kết quả hơn. Thuốc thường dung nạp tốt, nhưng có thể gây khô miệng và mất ngủ. Không dùng thuốc cho những người có tiền căn co giật, chấn thương đầu, chán ăn tâm thần, hay cuồng ăn hoặc những người uống quá nhiều rượu.

Varenicline (Chantix®):

Thuốc tác dụng trên não làm giảm những triệu chứng ngưng nicotine và cơn thèm thuốc lá. Nên dùng thuốc sau ăn và uống với một ly đầy nước. Liều sử dụng như sau: 1 viên 0.5 mg mỗi ngày trong 3 ngày, sau đó 1 viên 0.5 mg 2 lần mỗi ngày trong 4 ngày kế và 1 viên 1 mg 2 lần mỗi ngày bắt đầu vào ngày thứ 7. Bệnh nhân nên cố gắng bỏ thuốc lá một tuần sau khi dùng Varenicline. Tiếp tục điều trị trong 12 tuần trước khi xác định hiệu quả. Những người bỏ thuốc lá thành công vào tuần 12 có thể tiếp tục varenicline trong 12 tuần nữa.

Tác dụng phụ thường gặp là buồn nôn và những giấc mơ bất thường.

BS Hà Thị Kim Hồng (BV Nhân dân 115)


Các bài khác:
BÁC SĨ THÙY LINH
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
090 670 5500

ĐẶT HÀNG - MUA HÀNG
(028) 6684 3862
0907 872 709
(T2-T6: 8h-17h
T7: 8h-12h)
khuyến mãi mua hàng online
FACEBOOK FANPAGE
TÌM KIẾM
Tìm nâng cao  
WEB LIÊN KẾT