Tin sức khỏe tổng hợp » Các bệnh mãn tính

Những quan niệm về năng lượng sinh học thần kinh trong ngăn ngừa và điều trị ung thư - tiếp theo

Ung thư vẫn luôn là một bệnh lý có nhiều khó khăn trong dự phòng và điều trị dù đã có những cố gắng lớn trong nghiên cứu và điểu trị suốt 30 năm qua. Các nhà nghiên cứu đã cố gắng giải thích nguyên nhân ung thư thông qua phát hiện cơ chế tế bào hoặc do đột biến gien. Cho tới nay những cố gắng tìm tòi một quan niệm thống nhất về ung thư vẫn còn hạn chế. Chúng tôi đề xuất một quan niệm về nguyên nhân bệnh ung thư, dựa trên khái niệm về năng lượng sinh học thần kinh, mà cơ chế trung tâm là tính kích thích quá mức (hyperexcitability), thể hiện qua mức độ biểu hiện quá cao của các kênh ion đóng mở theo điện thế, các kên đóng mở nhờ phối tử (ligand) và các chất dẫn truyển thần kinh. Dựa trên quan điểm này, có thể hiểu biết tốt hơn nguyên nhân gây ung thư và xây dựng một chiến lược ngăn ngừa và điều trị ung thư hiệu quả hơn.

Tác dụng chống ung thư của các chất ức chế kênh

Gamma – amino – n – butyric acid (GABA)

GABA là chất trung gian thần kinh chủ yếu có tính ức chế trong não động vật có xương sống. Ngoài hệ thần kinh trung ương thì GABA còn tham gia vào nhiều chức năng khác nhau nhhư kết tập tiều cầu và phản ứng cực đầu của tinh trùng. Một nghiên cứu cho thấy GABA ức chế được sự di cư của tế bào ung thư biểu mô, mở đường cho sự phát triển các chất dược lý đặc hiệu có thể làm chậm hoặc ức chế sự xâm lấn và di căn của các loại ung thư khác nhau [60].

Cũng đã thử nghiệm những tác dụng của GABA và của Baclofen (là chất chủ vận của thụ thể GABA) trên sự sinh ung thư đại tràng do dùng azoxymethane trên chuột cống Wistar: Hầu hết mọi khối u ở đại tràng phát triển ở chuột cống dùng bacfolen là thuộc dạng u tuyến, trong khi ở nhóm đối chứng, những khối u chủ yếu là ung thư hạch. Những kết quả trên cho thấy là nhờ thông qua thụ thể GABA mà bacfolen ức chế được sự lớn lên của u đại tràng [61].

Glycine

Glycine là chất phong phú nhất trong những chất dẫn truyền thần kinh, có mặt ở hệ thần kinh trung ương. Glycine gặp ở hầu hết các mô và là chất chủ yếu trong sinh hóa học của các đoạn một carbon, các protein, peptide, nucleotide, porphyrin, adenosine triphosphate (ATP) và của muối mật. Glycine là chất dẫn truyền thần kinh chủ yếu và có tính ức chế, gặp trong tủy sống và thân não, có tính chống viêm, bảo vệ tế bào và điều biến miễn dịch [62].

Glycine có chức năng tong tủy sống cũng giống như GABA trên hệt thần kinh trung ương. Cùng với chứng minh sự có mặt các kên cloride qua cửa glycine ở nơrôn, ở bạch cầu và ở các tế bào không nơrôn khác, cũng đã tìm được cơ chế tác dụng thống nhất giải thích cho nhiều tác dụng phổ biến của glycine [62].

Những nhà nghiên cứu đã cho thấy một số kết quả gây ấn tượng khi dùng liều cao glycine để chống ung thư trong các test trên động vật. Bổ sung glycine cho thấy có thể ngăn ngừa 23% sự tạo các u gan loại nhỏ và ức chế đến 80% với u loại lớn [63]

Trong một thử nghiệm về lợi ích của glycine, đã cấy cho súc vật thí nghiệm các u melanine và cho súc vật ăn, hoặc theo chế độ dinh dưỡng quy ước, hoặc theo chế độ có bổ sung liều cao glycine. Kết quả là các khối u phát triển nhanh ở nhóm súc vật dùng chế độ dinh dưỡng quy ước, còn ở nhóm dùng glycine, các khối u nhỏ hơn 50-70% [64]. Glycine ức chế in vivo sự lớn lên của các khối u melanin B16 nhờ ức chế sự tạo mạch. Công trình này cũng cho thấy glycine ức chế được sự lớn lên và di cư của các tế bào nội mô là nhở hoạt hóa được kênh cloride qua cửa glycine. Kênh này được hoạt hóa sẽ làm tăng phân cực màng tế bào và phong bế luồng nhập Ca2+, qua đó là giảm thiểu tín hiệu thông qua trung gian yếu tố tăng trưởng [65].

Glycine còn ngăn ngừa in vivo ung thư gan và một vài u melanine nhờ ức chế được sự tạo mạch và tăng sinh của tế bào nội mô [66, 67].

Magnesium

Magnesium cần để duy trì điện thế màng tế bào và khởi động sự tổng hợp protein. Magnesium phong bế kênh NMDA (N-methyl-D-aspartam) theo kiểu “ phụ thuộc điện thế”. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó (ví dụ không đủ năng lượng ATP để duy trì điện thế nghỉ) mà điện tích của bề mặt màng tế bào bị ngừng làm cho nơrôn bị kích thích thì sự phong bế của magnesium lúc đó bị vượt qua và kên sẽ mở [68,69].

Glutamat hoặc aspartat kết hợp với thụ thể NMDA sẽ tạo ra luồng nhập của các ion Na+ và Ca2+ vào trong nơrôn và luồng xuất của ion K+ , qua đó sẽ kích thích nơrôn. Các bơm ATP rất cần để làm cho các ion quay trở lại giúp duy trì trạng thái nghỉ.

Magnesium phong bế được kênh Ca2+ giúp giữ vững điện thế màng gần với giá trị khi nghỉ. Nếu không còn giữa vững được trạng thái nghỉ tái cực, thí dụ do hạ glucose máu hoặc khi bơm bị trục trặc (như khi thiếu hụt magnesium ), thì khi đó nơrôn bị kích thích và các kên lại mở ra. Sự hỏng hóc của bơm sẽ dần dần làm lượng canxi/ natri quá mức tồn tại trong tế bào và cuối cùng giết chết tế bào [69, 70].

Hơn nữa các bơm ATP không những chỉ dùng để phục hồi sự cân bằng ion, mà còn dễ loại bỏ glutamat dư thừa. Glutamat sau đó được chuyển hóa cho glutamine, đây là quá trình khác cũng cần đến ATP. Magnesium là nguyên tố phong bế kên Ca2+ và khi thiếu Magnesium sẽ có tăng Ca2+ nội bào qua kênh (và bơm), dẫn tới tăng cả Natri nội bào qua trao đổi (và bơm) [71, 72]. Magnesium và Kali cũng có liên quan với nhau rất chặt chẽ. Magnesium cần cho chức năng bơm Natri/ Kali. Khi thiếu hụt Magnesium thì luồng ra của Natri và luồng vào của Kali có thể bị hỏng hóc.

Nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm và dịch tễ học đã cho thấy magnesium có tác dụng phòng và chống ung thư [73]. Một nghiên cứu của Pháp cho thấy khi tăng nồng độ Mg trong máu có thể làm giảm nguy cơ ung thư xuống còn một nửa. Một công trình nghiên cứu kéo dài 18 năm cho thấy nam giới có nồng độ Magnesium cao sẽ có nguy cơtử vong vì ung thư và vì các bệnh tim thấp hơn [74]. Một nghiên cứu mới đây của Thụy điển cho thấy phụ nữ dùng lượng Magnesium cao nhất sẽ có nguy cơ ung thư thấp hơn 40% so với các phụ nữ dùng lượng thấp nhất của nguyên tố này [75].

Những acid béo thiết yếu

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy acid béo không bão hòa nhiều nối đôi omega-3 (PUFA), eicosapentaen-oic (EPA) và docosahexaen-oic acid (DHA) trong các loài cá có thể ức chế sự sinh ung thư [76]. Phương pháp tác dụng đề xuất có thể liên quan đến sự sinh tổng hợp các eicosanoid, sự peroxy hóa lipid và các con đường tái nạp tín hiệu. PUFA ngăn chặn được sự sản xuất tiền ung thư của nitric oxide (NO) ở đại thực bào theo cách phụ thuộc liều lượng. PUFA cũng còn ức chế được sự sản xuất các gốc tự do và các dạng oxy hoạt động. Những nghiên cứu trên ung thư vú [77, 78], đại tràng [79] và tuyến tiền liệt [80] đều cho thấy PUFA có tá dụng có ích chống lại sự lớn lên của khối u.

Một tính chất khác nữa của PUFA, phù hợp với lý thuyết của chúng tôi về sự sinh ung thư, tức PUFA làm yếu đi các kênh ion natri và canxi, nên có tác dụng chống loạn nhịp tim và chống co giật trên mô thần kinh. Cũng thấy rằng tác dụng điều biến của PUFA có sự tương đồng đáng lưu ý với tác dụng của thuốc yê như lidocain và của thuốc chống co giật như phenytoin.

Acid Folic

Acid Folic là vitamin quan trọng thuộc nhóm B, tham gia vào nhiều con đường enzym, bao gồm sự chuyển hóa từ homocysteine sang cysteine và xúc tác cho sự tái methyl hóa để cho methionine. Một trong những tác dụng của acid folic là làm giảm hàm lượng homocysteine. Homocysteine là một acid amine có thể gây độc tính kích thích qua trung gian glutamat và qua thụ thể NMDA [82]. Do có tác dụng kích thích của NMDA, nên homocysteine có thể làm tế bào chết theo chương trình (apoptosis) và tế bào chết do bị kích thích.

Homocysteine cũng làm hủy hoại oxy hóa và gây viêm ở mạch máu. Công với vai trò gây bệnh trong thoái hóa thần kinh và bệnh tim, thì homocysteine cũng liên quan cả tới ung thư. Một công trình nghiên cứu được công bố cho thấy người có hàm lượng cao homocysteine sẽ có yếu tố nguy cơ về ung thư cổ tử cung xâm lấn [83]. Giảm hàm lượng homocysteine sẽ làm giảm tỉ lệ tái phát ung thư tuyến ở đại – trực tràng [84]. Những nghiên cứu về acid folic đã gợi ý vitamin này có chức năng đáng quan tâm trong bảo vệ DNA và RNA của tế bào. Bổ sung kéo dài folat sẽ mang lại lợi ích làm giảm nguy cơ ung thư đại tràng [85].

Quan niệm về năng lượng sinh học thần kinh trong sự phát triển ung thư

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có thể có ít nhất 5 yếu tố chủ yếu thúc đẩy sự phát triển ung thư . Những yếu tố này bao gồm: sự kích thích quá mức, tiêu hao năng lượng, nitric oxide, metalloproteinase của chất cơ bản và adenosine.

Trong những công bố trước đây về ung thư và hen [3, 4], chúng tôi đã đề cập rộng rãi đến vai trò của những thay đổi của màng bị kích thích đi kèm với viêm và thay đổi trong ung thư. Sự kích thích quá mức có thể do kích thích hoặc biểu hiện quá mức của “kênh natri qua cửa điện thế” (VGSC), sự quá mẫn cảm của các kên kích thích hoặc của các chất dẫn truyền thần kinh – tức glutamat và acetylcholine và các thụ thể của chúng – đi cùng với sự giảm sút biểu hiện của các “kênh kali qua cửa điện thế” (VGPC). Một trong những hậu quả của sự kích thích quá mức là sự kích thích tiêu glucose qua xúc tác của Na+/ K+ - ATPase qua sự tăng nồng độ natri trong tế bào [86].

Kích thích quá mức và hao hụt năng lượng

Tế bào ung thư có những tính chất tương tự như ở các tế bào nơ-rôn tiền sinh mà bị kích thích bởi glutamat. Kích thích quá mức sẽ tạo ra sự chênh lệch giữa tiêu hao với cung cấp năng lượng. Những thay đổi này xảy ra do các tín hiệu của giảm oxy – huyết cũng như do tăng canxi tự do tong bào tương, giảm adenosine triphospahte (ATP), còn do tích lũy adenosine ở ngoại bào (tiết ra do sự phân rã của ATP) [87].

Theo quan niệm của chúng tôi, những tế bào và mô mỗi khi trở nên tăng sinh hoặc ác tính sẽ phải chịu đựng trạng thái kích thích quá mức do các cơ chế sinh học thần kinh. Điều này rất giống với cơ chế phát triển của hệ thần kinh trung ương trong sự phát triển phôi, khi tạo hình phôi thai và trong sự tu sửa khi bị chấn thương thần kinh. Tuy nhiên điều kiện kích thích quá mức này còn làm cho hao hụt năng lượng tế bào, rối loạn chuyển hóa và kích thích sự tăng trưởng của khối u, tạo đột biến, xâm chiếm và di căn.

Với một cơ thể trẻ trung cường tráng theo chế độ dinh dưỡng bình thường, có khả năng giải độc và có hàm lượng ATP đầy đủ, thì tế bào có thể làm triệt tiêu các yếu tố kích thích (ví dụ các ngoại độc tố, hormon, stress, chiếu xạ,….) và lạoi trừ những điều kiện cơ bản (ví dụ nhiễm khuẩn mạn tính) và cuối cùng, trạng thái kích thích quá mức sẽ được giải quyết.

Nhưng một khi sự mất cân bằng về năng lượng sinh học thần kinh không thể giải quyết được, thì sẽ kéo theo phát triển sự rối loạn trong chuyển hóa và tiến tới hiện tượngviêm, loạn sản và ác tính. Điều này tương tự như khi sửa chữa điều trị các vết thương: không có năng lượng cần thiết thì không thể chữa khỏi hoàn toàn vết thương!

Bơm trao đổi natri/ kali phải tiêu thụ nhiều năng lượng. Theo tính toán, có tới 25-40% hoạt tính chuyển hóa ở động vật có xương sống (tức sự tiêu thụ ATP) là dành cho bơm này. Có tới 80-90% tổng lượng glucose trong vỏ não có thể dành cho sự đòi hỏi năng lượng của dẫn truyền thần kinh glutamatergic [88]. Sự chuyển hóa của glutamat tích lũy ở tế bào hình sao để sang gluamin đòi hỏi năng lượng lấy từ sự tiêu glucose. Sự đòi hỏi này tạo một xung cho sự cung cấp glucose và sau đó tế bào hình sao sẽ tiết lactat để oxy hóa bởi nơrôn. Đã thấy có sự liên quan quan trọng về lượng giữa sự sử dụng glucose với sự tạo nên glutamin [89]. Những hiện tượng trên đây có thể cắt nghĩa vì sao những tế bào ung thư phụ thuộc đặc trưng vào sự tiêu glucose, sự phân rã kỵ khí của glucose sang ATP kể cả khi có mặt oxy.

Sự tiêu glucose kỵ khí và tạo acid lactic được biết đến như tác dụng Warburg và được coi như là hậu quả của rối loạn điều hòa năng lượng hơn là nguyên nhân trong sự phát triển ung thư. Để bù trử vào nhu cầu cao về glucose trong ung thư, cần phải đẩy mạnh sự tân tạo glucose ở gan từ các acid amin và acid béo, điều này dẫn tới trạng thái bệnh lý rất quen biết trong ung thư là suy mòn cơ thể!

Để tránh vi môi trường không thuận lợi, tránh sự hao hụt năng lượng trong mô ban đầu, thì các tế bào ung thư có thể phải chuyển dịch qua di cư và di căn về phía những môi trường mới và tới những nguồng năng lượng mới [3]. Tuy nhiên khi những con đường kích thích quá mức vẫn tiếp tục thì quá trình tương tự về rối loạn điều hòa năng lượng có thể xảy ra ngay tại mô hoặc cơ quan bị di căn.

Tính kích thích quá mức và Nitric Oxide (NO)

Tính kích thích do kích thích kênh phụ thuộc cửa điện thế có thể dẫn tới luồng nhập Na+ và tiết glutamat; như vậy sẽ làm tăng sản xuất hydro peroxyt (H2O2) và NO. Stress oxy hóa tạo nên bởi H2O2  sẽ đem theo gánh nặng Na+ ở tận cùng thần kinh kèm theo hao hụt ATP, rối loạn điều hòa Ca2+ và Na+ và phân rã điện thế mang ty lạp thể, rút cuộc tạo tác dụng vòng xoắn luẩn quẩn về tình kích thích quá mức, stress oxy hóa và hao hụt năng lượng [90].

Luồng nhập Ca2+ sẽ kích thích NO synthase (NOS), vì vậy làm tăng nồng độ NO. Sự sản xuất quá nhiều NO do kích thích quá mức (và không thích hợp) enzym NOS có thề là trung gian cho thành phần chủ yếu của sự hư hại do độc tính kích thích.

Trong điều kiện bình thường, NO có nhiều vai trò sinh lý khác nhau bao gồm: làm dãn mạch, kiểm soát sự biểu lộ gene giữa các tế bào, tăng cường miễn dịch và làm lành vết thương nhờ làm tăng tuần hoàn và ức chế sự kết tập tiểu cầu.

Nhưng khi hàm lượng NO tăng kéo dài sẽ gây nên những tác dụng bệnh lý của viêm mạn tính, bệnh tự miễn, gây đột biến và ung thư. No tham gia gây ung thư do gây cảm ứng sự đột biến gene và ức chế sửa chữa DNA. NO làm tăng đột biến gene gấp 40 lần sự đột biến tự phát [91]. Những tế bào u và các tế bào miễn dịch kèm theo, tất cả đều có thể sản xuất NO [92]. Hàm lượng NO cao hơn có thể gây độc tế bào trên các tế bào u thông qua stress do oxy hóa, hư hại DNA qua hủy hoại chuyển hóa năng lượng và rối loạn điều hòa chuyển hóa canxi [91].

Tính kích thích quá mức và trục các yếu tố trưởng thành giống - Insulin

Glutamat và kích thích NMDA cũng làm tăng sản do bảo vệ và bù trừ trục các yếu tố trưởng thành giống – insulin [93-95]. Vai trò của yếu tố - l trưởng thành giống – insulin (IGF-1) trong bệnh ung thư đã được nghiên cứu trong nhiều năm, nhưng mới đây đã có thêm chất lượng và số lượng các bằng chứng [96]. Một số nghiên cứu tiếp theo có sử dụng máu bảo quản tập hợp đến 14 năm trước khi bệnh khởi đầu đã cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa IGF-1 với ung thư tuyến tiền liệt, ung thư vú tiền mãn kinh và ung thư đại tràng [97-99].

Nhiều chiến lược điều trị khác nhau đã chọn đích là thụ thể IGF-1 đã chứng minh hoạt tính chống tân sinh rõ rệt ở các mô hình thực nghiệm và gần đây đã bằt đầu các thử nghiệm lâm sàng với nhiều thuốc mới [100].

Hấp dẫn hơn nữa là 2 công trình nghiên cứu mới đây cho thấysự biểu lộ của thụ thể IGF-1 có liên quan rõ rệt đến kéo dài sự sống sót ở bệnh nhân ung thư phổi tế bào không nhỏ hoặc bị sarcôm mô mềm rất ác tính [101, 102].

Tính kích thích quá mức và hoạt hóa metalloproteinase ở chất cơ bản

Sự sản xuất quá mức metalloproteinase ở chất cơ bản  (MMP) trong ung thư từ lâu đã được biết là có tương quan chặt chẽ với sự tiến triển và di căn của ung thư. Tuy nhiên, những kết quả khi dùng các chất ức chế MMP có phổ rộng để điều trị bệnh nhân ung thư tiến triển cũng bị thất bại trong nhiều trường hợp [103]. Nhiều nghiên cứu liên quan đến các bệnh lý võng mạc cho thấy cơ chế kích thích qua hoạt hóa NMDA và tổng hợp NO chịu trách nhiệm về sự hủy hoại mô qua sự sản xuất quá mức MMP và khả năng làm giáng hóa chất cơ bản ngoài tế bào và giáng hóa màng cơ bản [104-105]. Quá trình này cũng gặp ở sự lớn lên của phôi bào và trong sự tạo hình của mô đòi hỏi phải có di chuyển tế bào và tạo lập vi môi trường mới. Cũng theo cách thức như trên, sự tăng sản xuất MMP do kích thích quá mức màng cơ bản có thể gây phát triển, sự tuần tiến và di căn của ung thư.

Adenosine

Adenosine là nucleoside nhóm purine có mặt với hàm lượng cao hơn trong các u rằn do giảm oxy-huyết tại chỗ. Adenosine là sản phẩm phân rã của ATP/AMP và có thể gây gián phân, tăng sinh tế bào u, tạo mạch và di cư tế bào và còn ức chế được đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào để chống sự lớn lên của khối u [106, 107]. Những nghiên cứu đã cho thấy adenosine kích thích sự tăng sinh của các tế bào ung thư biểu mô tuyến vú [107]. Kết quả cuối cùng của sự tích lũy adenosine là làm tăng sự tồn tại và phát triển của khối u qua cơ chế kép là tạo mạch và ngăn chận chức năng miễn dịch chống ung thư [108].

Những chất đối kháng thụ thể ở adenosine chứng tỏ có tác dụng chống ung thư

Theobromine là chất đối kháng ở thụ thể adenosine và có tính chất chống tạo mạch ở nhiều loại ung thư khi thử nghiệm sự tạo mạch da của chuột nhắt trằng Balb/c [109]. Cafein cũng có tác dụng hiệp đồng với thuốc hóa học trị liệu chống ung thư biều mô di căn và chống u lymphô bào ở xướng và mô mềm [110]. Những dữ liệu trên đây cho thấy cafein và các dẫn xuất methylxanthine khác có thề cải thiện kết quả lâm sàng ở bệnh nhân trước và sau khi chẩn đoán bệnh di căn và có thể hiệp đồng làm giảm tỉ lệ bệnh và tỉ lệ từ vong đi cùng với sự lan tỏa của các khối u [111-113].

Với phụ nữ, thì những người bình thường uống cà phê sẽ giảm nguy cơ ung thư đại tràng [114] và ung thư vú tiền mãn kinh [115]. Một nghiên cứu khác cũng xác định là có liên quan nghịch giữa uống cà phê và tỉ lệ tử vong do u gan [116]. Adenosine là yếu tố tiền viêm trong các bệnh như hen phế quản và khí thũng [117,118] và là chất gây cảm ứng sự xơ hóa gan [119].

CHIẾN LƯỢC CHỐNG UNG THƯ

Chúng tôi suy đoán là những đích quan trọng nhất để chiến đấu và ngăn ngừa ung thư là loại trừ các yếu tố kích thích và tạo các điều kiện thuậnlợi để cho cơ thể phục hồi điện thế màng tế bào lúc nghỉ. Cho rằng nhiều chiến lược như vậy có thể thực thi, chúng tôi thấy yêu cầu cốt yếu là phải làm giảm sử dụng năng lượng (ATP) để hỗ trợ cho năng lượng sinh học của tế bào. Như vậy, mỗi một sự giảm tiêu hao năng lượng bằng cách làm giảm sự biểu lộ/ chức năng của VGSC, giảm hoạt tính glutamat/ NMDA, giảm các cơ chế kích thích khác đều có tác dụng bảo vệ chống ung thư.

Đã thấy sự duy trì bằng định nội môi ion và các tính chất của màng nơrôn sẽ được cải thiện khi làm giảm hoạt tính của các kênh Na+ qua cửa điện thế trong khi bị giảm oxy – huyết cấp tính [120]. Sự phá vỡ ngăn chặn tạo ATP ở ty lạp thể sẽ kích thích hoạt tính của NMDA [121, 122], cho nên nếu ức chế được sự tiết glutamat, ức chế thụ thể NMDA hoặc ức chế các cơ chế kích thích khác thì sẽ có thể có vai trò quan trọng trong tiếp cận ngăn ngửa và chữa ung thư.

Phù hợp với lý thuyết của chúng tôi về sự phát triển ung thư, thấy tế bào sẽ bị thay đổi dưới điều kiện stress oxy hóa, khi thiếu năng lượng ATP và khi vi môi trường nằm trong trạng thái bệnh lý. Các phân tử năng lượng của sự vận chuyển màng tế bào, tức ATP và AMP, đã có tác dụng chống ung thư rõ rệt [123].

Như trên đã nêu, làm giảm tích lũy adenosine nhở trung hòa hoặc phong bế các thụ thể adenosine cũng có thể tạo những tác dụng thuận lợi chống các bệnh viêm và ung thư. Phối hợp các biện pháp như làm triệt tiêu sự kích thích quá mức, dùng chất đối kháng adenosine, tăng thu nhập các chất làm tăng năng lượng (lysine, carnitine, các fumarat,…) sẽ có thể là cách tiếp cận có ích để quản lý bệnh ung thư.

Tóm lại

Quan niệm của chúng tôi về quá trình sinh ung thư bao gồm sự biến đổi gây ung thư của các tế bào lành khi bị stress do màng tế bào bị kích thích quá mức và luôn ở trạng thái tiêu hao nhiều năng lượng kéo dài (hoặc tác nhân gây tiêu hao năng lượng), đi cùng với các cơ chế thích nghi về năng lượng động học của tế bào và với stress oxy hóa.

Các điều kiện trước hết để sinh ung thư có thể bao gồm nhiễm khuẩn mạn tính, tia bức xạ, các chất độc (các độc tố gây kích thích như nicotin, rượu, cocain, dung môi hữu cơ, formaldehyd,…), các acid amine gây kích thích trong thực phẩm (ví dụ glutamat và aspartat), các hormon/ estrogen, sự mẫn cảm với các yếu tố kích thích do tác động quá mức vào các thụ thể glutamat / N-methyl-D-aspartat (NMDA), và còn là sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng có tính ức chế trong khẩu phần hàng ngày (như magnesium, glycine, acid folic, taurine, các acid béo có nhiều nối đôi, lysine,..)

Hậu quả lâu dài của các stress kể trên trước hết là làm cho màng tế bào dễ bị kích thích do phải thích ứng với hoàn cảnh, kéo theo làm tiêu hao ATP. Trong những biến đổi nói trên, thấy có hiện tượng tăng các kên Natri đóng mở qua điện thế (VGSC), các kênh đóng mở nhờ các phối tử (ligand) và tăng hàm lượng các chất dẫn truyền thần kinh (tăng glutamat và acetylcholine). Sự điều chỉnh tích cực tính kích thích quá mức của màng tế bào sẽ làm tăng như cầu năng lượng, nhưng những thay đổi của các tế bào để thích nghi luôn luôn không đủ thỏa mãn, nên đòi hỏi phải tăng tiêu hao ATP để điều khiển các kênh ion phụ thuộc ATPase. Những biến đổi này sẽ làm tăng tổng hợp nitirc oxide av2 kèm theo đó là stress oxy hóa, là hoạt hóa chất nền các metalloproteinase (MMP) tạo thành adenosine gây cảm ứng viêm, là tạo mạch và gây tổn thương các mô và sự suy giảm miễn dịch. Để cải thiện các stress nói trên, thì sự tăng lượng các yếu tố tăng trưởng giống insulin (IGF – insulin: like growth factor) cũng là một khuynh hướng thích nghi của cơ thể. Khi đó, tế bào có thể phát triển theo hai hướng: một là loạn sản tế bào, tạo các vết thương, vết loét, xơ hóa, và tế bào sẽ chết; hai là tế bào tăng sinh, thoái biến trở thành ung thư, di cư và di căn. Một số công trình nghiên cứu cho thấy là tế bào phát triển theo hướng nào là tùy thuộc vào nồng độ của nitric oxide: nồng độ nitric oxide cao sẽ gây chết tế bào, còn nồng độ nitric oxide thấp sẽ tạo điều kiện thuận lợi để tế bào tăng sinh và tạo ung thư (bảng 1) [91].

Như chúng tôi đã nêu, ở đây các độc tố gây kích thích nội sinh và ngoại sinh đã đóng vai trò quyết định trong sinh học bệnh của ung thư: các độc tố này có thể truyền từ thế hệ tế bào này sang những thế hệ tế bào sau, thậm chí truyền tới những người con của bệnh nhân ung thư theo những cơ chế di truyền học thông thường và di truyền học biểu sinh.

Hoang, B. X., Graeme Shaw, D., Pham, P., and Levine, S. A. (2007). Neuro-bioenergetic concepts in cancer prevention and treatment. Med Hypotheses 68, 832-843.

Dịch và Giới thiệu: GSTSKH Hoàng Tích Huyền

 


Các bài khác:
BÁC SĨ THÙY LINH
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
090 670 5500
(Chỉ dùng duy nhất số này)

ĐẶT HÀNG - MUA HÀNG
(028) 6684 3862
0907 872 709
(T2-T6: 8h-17h
T7: 8h-12h)
khuyến mãi mua hàng online
FACEBOOK FANPAGE
TÌM KIẾM
Tìm nâng cao  
WEB LIÊN KẾT